Xương Bồ

Xương bồ hay còn gọi là thạch xương bồ, thủy xương bồ thuộc họ Ráy. Mọc hoang tại những vùng núi miền Bắc và Trung nước ta. Thường ở những nơi khe đá, khe suối, chỗ mát. Là một vị thuốc được dùng cả trong tây và đông y.

Nhận biết cây xương bồ

Thạch xương bồ là một loại cỏ sống lâu năm, có thân rễ mọc ngang. Đường kính to bằng ngón tay, có nhiều đốt, tên có những sẹo lá. Lá mọc đứng hình dải, dài 30-50cm, rộng 2-6mm, chỉ có gân giữa. Hoa mọc thành bông mo ở đầu một cán dẹt dài 10-30cm, cán này được phủ bởi một lá bắc. Lá bắc dài 7-20cm, rộng từ 2-4mm, vượt cao hơn cụm hoa rất nhiều, làm cho cụm hoa trong như lệch sang một bên. Quả mọng màu đỏ nhạt, một ngăn, có thành gần như khô. Quanh hạt có một chất gôm nhầy.

Thủy xương bồ cũng giống như thạch xương bồ nhưng to và cao hơn. Lá dài tiwf 50-150cm, rộng 6-30mm. Lá bắc của cán hoa so với loài trước cũng dài hơn, thường dài tới 45cm. Cụm hoa mọc thành bông mẫm, so với cụm hoa trên cũng to và ngắn hơn, thường dài 4-8cm, đường kính 6-12mm.

Công dụng của xương bồ

Xương bồ là một vị thuốc được dùng cả trong tây y và đông y.

Theo đông y, xương bồ có vị cay, tính ôn, vào hai kinh tâm và can. Tác dụng tẩy uế, khai khiếu, tuyên khí, trục đờm, dùng chữa thần kinh suy nhược, tiêu hóa kém, thông cửu khiếu, sáng tai mắt, ôn tràng vị, trị phong hàn tê thấp. Trẻ con nóng sốt nấu nước tắm. Phàm âm huyết không đủ, tinh hoạt, ra nhiều mồ hôi cấm dùng. Kỵ sắt, ghét ma hoàng, địa đởm, thịt dê, đường và mật.

Trên thực tế, xương bồ được dùng làm thuốc bổ, bổ dạ dày, giúp sự tiêu hóa. Còn được dùng là thuốc điều hòa nhịp tim trong nhịp xoang nhanh, ngoại tâm thu thành chuỗi, nhịp do huyệt xoang nút. Ngày dùng 4-10g kéo dài 1-2 tháng.

Bài viết liên quan

Mơ - Prunus armeniaca