Sắn Dây

Cây sắn dây thuộc họ Cánh bướm, cho ta vị thuốc Cát căn (cát là sắn, căn là rễ). Cát căn là rễ phơi hay sấy khô của cây sắn dây. Ngoài ra còn gọi với các tên khác như: cam cát căn, phấn cát, củ sắn dây.

Nhận biết cây sắn dây

Sắn dây là một loại dây leo, có thể dài tới 10m, rễ phát triển to lên thành củ, nhiều bột. Thân cây hơi có lông. Lá kép gồm 3 lá chét. Lá chét hình trứng, bản thân lá chét lại chia thành 2-3 thùy rõ rệt, phiến lá chét dài 7-15cm, rộng 5-12cm, có lông nằm rạp trên 2 mặt lá. Cuống lá chét giữa dài, cuống 2 lá chét hai bên ngắn hơn.

Hoa màu xanh, mọc thành chùm ở kẽ lá. Quả giáp dài 9-10cm, rộng 10mm, màu vàng nhạt, rất nhiều lông.

Sắn Dây
Sắn Dây – Pueraria thompsoni

Cây sắn dây được trồng tại khắp nơi để lấy củ ăn và chế bột sắn dây làm thuốc. Người ta đào lấy rễ rửa sạch đất cát, bóc bỏ lớp vỏ giấy bên ngoài. Cắt thành từng khúc dài 10-15cm, có khi thái lát dày 0,5-1cm. Xông diêm sinh, sau đó phơi hay sấy khôi. Nếu muốn chế bột sắn dây thì giã nhỏ, gạn lấy tinh bột, lọc đi lọc lại nhiều lần, phơi khô.

Công dụng của sắn dây

Bột sắn dây được dùng để pha nước uống cho mát, giảm nhiệt hoặc dùng trong việc chế thuốc viên. Vì nó có tính chất giúp cho viên dính, đồng thời lại dễ tẽ ra để thuốc chóng tác dụng.

Theo tài liệu cổ, Cát căn có vị ngọt, cay, tính bình. Hoa sắn dây có vị ngọt, tính bình. Vào hai kinh tỳ và vị. Có tác dụng giải cơ, thoái nhiệt, sinh tân chỉ khát. Hoa sắn dây giải độc. Dùng chữa biểu chứng miệng khát, đầu nhức, tiết tả, lỵ ra máu, đậu chẩn sơ khởi.

Cát căn là một vị thuốc chữa sốt, làm cho ra mồ hôi, chữa bệnh sốt khát nước, nhức đầu, lỵ ra máu.

Ngày dùng 8-20g dưới dạng thuốc sắn, dùng riêng hay phối hợp với những vị thuốc khác

Bài viết liên quan