Kinh Giới

Vị kinh giới nói ở đây là vị kinh giới (Schizonepeta tenuifolia) được nói trong tài liệu cổ. Thuộc họ Hoa môi. Còn gọi là khương giới, giả tô. Ở nước ta, nhân dân vẫn dùng một cây khác với tên kinh giới (Elsholtzia cristata) để ăn vào làm thuốc. Nếu dùng toàn cây gọi là toàn kinh giới, dùng hoa gọi là kinh giới tuệ, dùng toàn cây bỏ rễ gọi là kinh giới.

Nhận biết cây kinh giới

Kinh giới là một loại cỏ sống hằng năm, mùi rất thơm, cao 0,6 – 0,8m, thân vuông, phía gốc màu hơi tía, toàn cây có lông ngắn. Lá mọc đối. Lá dưới gốc không có cuống hay gần như không có cuống, xẻ sâu 5 thùy. Lá phía trên cũng không cuống, xẻ từ 3 – 5 thùy.

Cụm hoa mọc thành bông, gồm những hoa mọc vòng ở mỗi đốt. Bông hoa dài 3-8cm, hoa nhỏ màu tím nhạt. Quả hình trứng hay hình trái xoan, dài chừng 1mm, mặt bóng, màu nâu.

Kinh Giới - Schizonepeta tenuifolia
Kinh Giới – Schizonepeta tenuifolia

Cây kinh giới nhân dân ta vẫn trồng để ăn, làm gia vị và làm thuốc đã được xác định là Elsholtzia cristata Willd. cùng họ. Cây cũng thuộc thảo, cao 0,3 – 0,45m, thân nhẵn, nhọc thẳng đứng. Lá mọc đối, phiến lá thuôn nhọn, dài 5-8cm, rộng 3cm, mép lá có răng cưa, cuống gầy dài 2-3cm. Hoa nhỏ, không cuống, màu tím nhạt, mọc thành bông ở đầu cành, rất mau. Quả gồm 4 hạch nhỏ, nhẵn, dài 0,5cm.

Công dụng của kinh giới

Theo tài liệu cổ, kinh giới vị cay, tính ôn vào 2 kinh phế và can. Có tác dụng phát biểu khứ phong, lợi yếu hầu, thanh nhiệt tán ứ phá kết. Dùng chữa ngoại cảm phát sốt, đầu nhức mắt hoa, yếu hầu sưng đau, sinh xong huyết vận. Sao đen chữa thổ huyết máu cam, đại tiểu tiện ra máu.

Kinh giới được dùng trong nhân dân làm thuốc chữa cảm mạo, phát sốt, nhức đầu, cổ họng sưng đau, nôn mửa, đổ máu cam, đi lỵ ra máu, băng huyết.

Liều dùng hàng ngày 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Trong đông y còn nói thêm những trường hợp biểu hư tự hãn (tự ra mồi hôi) thì không nên dùng.

Bài viết liên quan

Mơ - Prunus armeniaca