Đan Sâm

Đan sâm còn gọi là huyết sâm, xích sâm, huyết căn vì rễ cây này giống sâm mà lại có màu đỏ. Cây thuộc họ Hoa môi, vào mùa đông người ta đào rễ, rửa sạch đất, cắt bỏ cây và rễ con, sau đó phơi hay sấy khô để làm thuốc.

Nhận biết cây đan sâm

Đan sâm là một loại cỏ sống lâu năm, cao 30-80cm. Toàn thân mang lông ngắn màu vàng trắng nhạt. Rễ nhỏ dài hình trụ, đường kính 0,5-1,5cm, màu đỏ nâu. Thân vuông trên có các gân dọc.

Lá kép, mọc đối: 3-5 lá chét, đặc biệt có thể có 7. Lá chét giữa thường lớn hơn cả. Lá kép có cuống dài, cuống lá chét ngắn có dìa. Lá chét dài 2-7cm, rộng 0,8-5cm. Mép lá chét có răng cưa tù. Mặt trên lá chét có màu xanh, có các lông mềm màu trắng, mặt dưới màu xanh tro, cũng có lông nhưng dài hơn. Gân nổi ở mặt dưới chia phiến lá chét thành múi nhỏ.

Cụm hoa mọc thành chùm ở đầu cành hay ở kẽ lá, chùm hoa dài 10-20cm. Hoa mọc vòng, mỗi vòng từ 3-10 hoa, thường là 5 hoa. Hoa có tràng màu xanh tím nhạt, 2 môi, môi trên trong nghiêng hình lưỡi liềm, môi dưới xẻ 3 thùy, thùy giữa có răng cưa tròn. Hai nhị ở môi dưới, bầu có vòi dài lòi ra ở môi trên. Quả nhỏ dài 3mm, rộng 1,5mm.

Công dụng của đan sâm

Đan sâm là một vị thuốc còn dùng trong phạm vi nhân dân. Để dùng làm thuốc bổ cho phụ nữ, phụ nữ chưa chồng da vàng, ăn uống thất thường. Chữa tử cung xuất huyết, kinh nguyệt không đều, đau bụng, các khớp xương sưng đau. Còn dùng chế thuốc xoa bóp.

Liều dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc.

Theo sách cổ, đan sâm có vị đắng, tính hơi hàn, vào 2 kinh tâm và can. Là thuốc chữa bệnh về máu dùng cho phụ nữ trước và sau khi sinh nở, kinh nguyệt nhiều ít đều dùng được. Vì nó có công dụng trụ ứ huyết, sinh huyết mới, vừa an thai sống, vừa cho ra thai chết, chỉ huyết (cầm máu) điều kinh. Còn có tác dụng chữa ung thũng, đơn độc, mẩn ngứa. Phàm không có chứng ứ huyết chớ có dùng.

Bài viết liên quan

Mơ - Prunus armeniaca