Ba Đậu

Vì vị thuốc giống hạt đậu, lại sản xuất ở Ba Thục (vùng Tứ Xuyên, Trung Quốc) nên có tên Ba đậu. Cây ba đậu cho ta vị thuốc: Hạt ba đậu; Dầu ba đậu (dầu ép từ hạt ba đậu); Ba đậu sương (hạt ba đậu sau khi đã ép hết dầu).

Còn gọi là mắc vát, cóng khói, bã đậu, giang tử, mãnh tử nhân, lão dương tử, ba nhân, mần để, cây để, cây đết. Thuộc họ Thầu dầu.

Nhận biết cây ba đậu

Ba đậu là một cây nhỡ cao 3-6m, cành nhẵn. Lá mọc so le, nguyên, hình trứng, đầu nhọn, mép có răng cưa nhỏ. Lá dài 6-8cm, rộng 4-5cm, cuống nhỏ, dài 1-2cm. Trông toàn thân cây thườn thấy một số lá đỏ nâu là cho cây dễ nhận biết.

Ba Đậu - Croton tiglium
Ba Đậu – Croton tiglium

Hoa mọc thành chùm dài 10-20cm, ở đầu cành, hoa cái ở phía dưới, hoa đực ở trên đỉnh, cuống nhỏ dài 1-3mm. Quả nang, nhẵn, màu vàng nhạt, cao 2cm, có 3 mảnh vỏ khi chín tách ra. Hạt hình trứng dài 10mm, rộng 4-6mm, ngoài có vỏ cứng, mờ, màu nâu xám.

Công dụng của ba đậu

Theo tài liệu cổ, ba đậu vị cay, tính nóng, rất độc, vào 2 kinh vị và đại tràng. Có tác dụng tả hàn tích, trục đờm, hành thủy.

Tây y chỉ dùng ba đậu làm thuốc lùa bệnh trong những trường hợp tê thấp, viêm phổi, đau ruột, viêm phế quản. Còn dùng làm thuốc tẩy mạnh, dùng trong trường hợp táo bón khó chữa, sau khi dùng những loại thuốc khác không có tác dụng. Nhưng thuốc rất độc, xếp vào loại độc bảng A. Gần đây ít dùng trong tây y vì nhiều nguy hiểm.

Trái lại, trong nhân dân, người ta ít sợ ba đậu hơn. Cũng công nhận ba đậu có độc nhưng do cách dùng khác cho nên đỡ nguyên hiểm hơn. Thường dùng với hình thức ba đậu sương với liều 0,01 – 0,05g, lại thường phối hợp với nhiều vị thuốc khác.

Ngoài công dụng làm thuốc, hạt ba đậu được dùng làm thuốc tẩm tên độc, thay củ ô dầu ở nơi không có ô dầu.

Tại nhiều tỉnh miền Bắc và Trung Quốc, người ta còn dùng hạt ba đậu để duốc cá.

Kinh nghiệm nhân dân chữa ngộ độc do ba đậu: Uống nước hoàng liên, nước đậu đũa, nước lạnh.

Bài viết liên quan

Mơ - Prunus armeniaca